Đền Phượng Hoàng - Di sản văn hóa linh thiêng
Tại mảnh đất xã Tiên Tiến, tỉnh Hưng Yên – nơi giàu truyền thống văn hóa và lịch sử, có một ngôi đền linh thiêng, cổ kính, mang trong mình những giá trị lịch sử – văn hóa đặc biệt. Đó chính là Đền Phượng Hoàng, hay còn gọi một cách thân thuộc là Đền Bà Cúc Hoa, đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1991 và Lễ hội Đền Phượng Hoàng cũng vừa vinh dự được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia theo Quyết định số 2188 ngày 27/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

1. Nguồn gốc tên gọi
Đền có tên tự là “Phượng Hoàng từ”, tên nôm là Đền Phượng Hoàng hay Đền Cúc Hoa, được đặt theo địa danh thôn Phượng Hoàng – nơi có địa thế được ví như hình chim phượng hoàng đang sải cánh, biểu tượng cho cát tường và cao quý. Tên gọi “Cúc Hoa” là để tưởng nhớ người phụ nữ đức hạnh – bà Cúc Hoa, người được thờ phụng chính tại di tích. Đền được dựng trên nền ngôi nhà xưa của bà, nay là khu gò mộ, nơi bà an nghỉ vĩnh hằng.


2. Cốt truyện Tống Trân – Cúc Hoa
Tên tuổi bà Cúc Hoa gắn liền với thiên tình sử cảm động được lưu truyền qua truyện nôm dân gian “Tống Trân – Cúc Hoa”. Nhân vật chính trong truyện là bà Cúc Hoa, con gái của một trưởng giả giàu có, sống trong nhung lụa nhưng có trái tim nhân hậu và giàu tình thương người.
Khi ấy, Tống Trân – chàng trai nghèo mồ côi cha từ năm 3 tuổi, dắt mẹ đi ăn xin và tình cờ đến nhà Cúc Hoa. Thấy hai mẹ con khốn khó, nàng đã lén đem cơm cho ăn. Hành động nhân nghĩa ấy khiến nàng bị cha đuổi khỏi nhà. Bỏ lại sau lưng cuộc sống giàu sang, Cúc Hoa quyết định theo mẹ con Tống Trân về quê, chăm lo việc nhà, hiếu thuận với mẹ chồng và tảo tần làm lụng để Tống Trân yên tâm dùi mài kinh sử.
Sự hy sinh âm thầm, lòng thủy chung son sắt và đức hiếu thảo của bà là tấm gương mẫu mực cho đạo làm vợ, làm con. Dù 10 năm xa cách không tin tức chồng, dù bị cha ép gả cho người khác, nàng vẫn giữ trọn tiết hạnh, xin để tang chồng đủ 3 năm mới tái giá. Đến phút cuối, nàng thậm chí định quyên sinh để bảo toàn danh dự thì may thay, Tống Trân trở về đúng lúc, giải cứu vợ và mẹ. Cảm động trước tấm lòng ấy, vua sắc phong bà là “Quận phu nhân” – danh hiệu tôn vinh người phụ nữ trung hậu, hiếu nghĩa, tiết hạnh vẹn toàn.
Sau này, khi bà Cúc Hoa mất vào ngày mồng 3 tháng 3, nhân dân địa phương đã lập đền thờ để tưởng nhớ công lao và đức hạnh của bà. Dù không có con, bà vẫn để lại một di sản tinh thần vô giá: biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam giàu đức hy sinh, lòng nhân hậu, thủy chung, đảm đang và hiếu thuận – những giá trị đạo lý trường tồn trong văn hóa dân tộc.

3. Giá trị lịch sử – kiến trúc nghệ thuật
Đền được khởi dựng từ sớm, quy mô kiến trúc ban đầu khá bề thế và đẹp song qua thời gian, ngôi đền đã bị hư hỏng. Nhân dân công đức phục dựng lại với kiến trúc kiểu chữ Đinh gồm: 5 gian Tiền tế, 3 gian Trung từ và 1 gian Hậu cung.
Trước tòa tiền tế được đắp nổi cảnh tứ quý rất hài hòa. Cửa chính được làm theo kiểu “Thượng song hạ bản” với các hoa văn tỉ mỉ, thể hiện sự khéo léo của nghệ nhân xưa. Các hàng kèo hiên được chạm hoa dây mềm mại, kết hợp với kiến trúc chồng rường đấu sen đặc trưng thời Nguyễn, tạo nên vẻ đẹp mát mẻ, trang nghiêm và giàu bản sắc dân tộc.

Phần trung tâm tòa tiền tế bài trí ban thờ, hai bên là 2 hàng câu đối ca ngợi đức hạnh của bà Cúc Hoa và bức đại tự sơn son thếp vàng khắc ba chữ “Trí Tài Khôn” - tôn vinh tài trí và nhân phẩm cao đẹp của bà. Bên phải là phiến đá cổ ghi công đức những người đóng góp tu bổ đền. Tại tòa Trung từ, gian chính diện được đặt một khám thờ lớn, hai bên đặt ngai thờ Đức ông và Thành Hoàng. Ở giữa tòa Trung từ, bên trên có treo bức đại từ với 3 chữ “Cốt chính từ”, bên dưới là phần mộ của bà Cúc Hoa. Đây trở thành nơi linh thiêng nhất của ngôi đền. Phần Hậu cung được tạo dựng với kiến trúc theo kiểu mái chồng diêm với bốn đầu đao cong thanh thoát. Hai đầu kìm ngậm đường bờ nóc, phần cổ diêm tạo hàng song gỗ, những tia nắng mặt trời xuyên qua đây tạo nên ánh sáng tự nhiên cho hậu cung. Đây là một điểm khác biệt, nét độc đáo hiếm thấy của đền Phượng Hoàng so với các công trình tín ngưỡng khác. Nơi đây đặt ngai và tượng thờ bà Cúc Hoa. Pho tượng được làm bằng gỗ với khuôn mặt hiền từ, phúc hậu.


Ngoài ra, trong khuôn viên đền còn có nhà Mẫu. Các hạng mục của đền còn tương đối đồng bộ và vững chắc, mang đậm kiến trúc thời Nguyễn. Đền có quy mô không đồ sộ nhưng từ tổng thể kiến trúc đến cách bài trí đồ thờ tự tạo nên vẻ đẹp linh thiêng và thành kính. Hiện nay, đền còn lưu giữ một số hiện vật như: Câu đối, đại tự, khám thờ, chuông đồng, kiệu long đình... vẫn được bảo tồn cẩn thận.


Tại đây còn lưu giữ quả chuông lớn đúc thời Bảo Đại và bia ghi công đức của các dòng họ khai phá vùng đất Phù Oanh, tạo nên không gian vừa linh thiêng vừa gần gũi. Ngôi đền tuy nhỏ nhưng ẩn chứa một triết lý tín ngưỡng sâu sắc “Tiên Thần, hậu Phật” – vừa thờ người có công với làng, vừa hướng về đạo lý, cội nguồn.
4. Lễ hội Đền Phượng Hoàng – di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia
Hằng năm, từ mồng 1 đến mồng 5 tháng 3 âm lịch, lễ hội Đền Phượng Hoàng được tổ chức để tưởng niệm bà Cúc Hoa. Đây là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc nhất tỉnh Hưng Yên, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương.



Lễ hội diễn ra với nhiều nghi thức và hoạt động đặc sắc như: Lễ dâng hương; lễ tế; thả hoa đăng; các trò chơi dân gian bắt chạch trong chum, thi bắt lợn, thi sàng gạo, thi tát nước gàu dây... cùng các hoạt động thể dục thể thao, giao lưu văn nghệ, hát quan họ trên sông... tạo nên không khí mang đậm bản sắc văn hóa bản địa. Năm 2025, lễ hội đền Phượng Hoàng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia nhằm ghi nhận giá trị văn hóa bền vững của lễ hội truyền thống nơi đây.
Về với Đền Cúc Hoa hôm nay là trở về với cội nguồn, với những giá trị đạo lý tốt đẹp đã ăn sâu trong tâm hồn dân tộc. Nơi đây không chỉ là điểm đến văn hóa, tâm linh, mà còn là trường học sống động về đạo làm người, đạo vợ chồng, đạo hiếu – nghĩa – trung – trinh mà bao thế hệ người Việt đã và đang noi theo.
Công đức và đức hạnh của bà Cúc Hoa mãi là niềm tự hào của nhân dân xã Tiên Tiến, là biểu tượng sống động của người phụ nữ Việt Nam truyền thống: nhân hậu, thủy chung, đảm đang và giàu nghị lực, được nhân dân đời đời biết ơn, tôn thờ.
